Tại Đà Nẵng, ông N. và bà A. bất đồng về việc phân chia nhà, đất và các khoản nợ sau khi hôn nhân đổ vỡ; tòa án phân định tài sản dựa trên nguồn gốc hình thành và chứng cứ do các bên cung cấp.
- Điểm cao chưa đủ chứng minh chất lượng học đại học
- Bé gái 3 tuổi tử vong khi xe bán tải chuyển hướng qua đường
- Ở tuổi 33, anh H. mới biết cảm giác trưởng thành của cơ thể
Vợ chồng kết hôn năm 2011, có một con chung và ly thân từ năm 2019. Khi yêu cầu ly hôn, cả hai còn tranh chấp quyền nuôi con, tỷ lệ chia giá trị căn nhà hai tầng cùng trách nhiệm thanh toán các khoản vay.
Trong thời kỳ hôn nhân, ông N. và bà A. cùng tạo lập căn nhà trên thửa đất do cha ông N. tặng riêng cho con trai, đồng thời mua sắm vật dụng phục vụ sinh hoạt gia đình. Ông N. muốn trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà A. cấp dưỡng; bà A. cũng đề nghị được nuôi con và cho biết có công việc ổn định, thu nhập bình quân 8 triệu đồng mỗi tháng, trong khi chồng không có việc làm ổn định.
Về căn nhà, ông N. đề nghị được hưởng 70% giá trị vì cho rằng mình đóng góp nhiều hơn. Bà A. không đồng ý, yêu cầu chia đôi tài sản chung và nhận phần được hưởng bằng tiền.
Nguồn gốc tài sản và chứng cứ quyết định việc phân chia
Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang cũ, TP Đà Nẵng, xác định căn nhà hai tầng cùng các vật dụng trong gia đình là tài sản chung, bởi hai bên thừa nhận cùng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Dù ông N. yêu cầu nhận 70% giá trị nhà, tòa cho rằng công sức của cả hai đều được thể hiện trong quá trình xây dựng và duy trì sinh hoạt gia đình.
Theo hồ sơ, căn nhà được xây bằng tiền vay mượn và vật liệu mua chịu. Ông N. phụ trách trả nợ xây dựng, còn bà A. lo chi phí ăn uống, sinh hoạt và nuôi con. Từ những đóng góp này, tòa quyết định chia đôi giá trị căn nhà.
Đối với thửa đất, quyền sử dụng đất đứng tên cá nhân ông N., có nguồn gốc từ hợp đồng tặng cho riêng của cha ông ngày 11/1/2016. Bà A. cho rằng cha mẹ chồng tặng đất cho cả hai vợ chồng nhưng không đưa ra được chứng cứ. Cha ông N. xác nhận chỉ tặng riêng cho con trai; bà A. cũng không chứng minh được hai người đã thỏa thuận nhập thửa đất vào tài sản chung. Vì vậy, yêu cầu chia đôi quyền sử dụng đất không được chấp nhận.
Tranh chấp còn liên quan đến các khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Ông N. khai vợ chồng nợ hơn 264 triệu đồng, phần lớn dùng mua vật liệu xây nhà; bà A. không đồng ý vì cho rằng chưa có căn cứ xác định toàn bộ là nợ chung.
Theo công ty vật liệu xây dựng, từ ngày 21/3 đến 28/8/2016, vợ chồng mua vật liệu hơn 206 triệu đồng, đã trả 22 triệu đồng và còn nợ hơn 184 triệu đồng. Bà A. thừa nhận có mua vật liệu nhưng cho rằng khoản nợ đã thanh toán hết, song không cung cấp được chứng cứ. Tòa xác định khoản nợ hơn 184 triệu đồng là nghĩa vụ chung, căn cứ vào quá trình xây dựng và việc hai người phải vay mượn, mua chịu để có đủ kinh phí.
Với khoản 30 triệu đồng và 5,1 chỉ vàng, bà Tr. cho biết đã cho vợ chồng ông N. mượn để xây nhà. Khi bàn việc vay, cả hai đều có mặt; lúc giao tiền và vàng, bà A. không ở nhà. Do tình nghĩa chị em, bà Tr. không yêu cầu viết giấy vay nợ và cho biết bà A. biết việc này. Tòa xác định đây cũng là nợ chung, mỗi người phải trả một nửa, cùng với khoản nợ công ty vật liệu xây dựng.
Riêng khoản vay 80 triệu đồng từ bà P., ông N. khai dùng để thanh toán nợ ngân hàng của hai vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Tòa không xác định đây là nợ chung; ông N. phải trả bà P. 50 triệu đồng.
Nội dung vụ việc được đối chiếu theo bản án số 07/2022/HNGĐ-ST ngày 18/2/2022 của TAND huyện Hòa Vang cũ, TP Đà Nẵng.
Nguyễn Hiệp (tổng hợp)