Hải Phòng – Tòa án không chấp nhận kháng cáo của bà T. trong vụ kiện liên quan đến phương án thu hồi hơn 1.000m² đất gia đình đã quản lý, sử dụng nhiều năm.
- Khởi tố hai bố con liên quan đến 9 thiết bị giám sát tàu cá
- Bệnh viện trăm tỷ ở Huế bỏ hoang, bò vào gặm cỏ, thiết bị nằm kho
- Ăn thực phẩm giàu sắt thế nào để cơ thể hấp thu tốt hơn?
Theo hồ sơ vụ việc, mẹ bà T. nhận chuyển nhượng tổng cộng 1.041m² đất trong giai đoạn 1993-2003, sau đó gia đình xây nhà và sinh sống tại đây. Khi địa phương thu hồi đất để thực hiện dự án công viên nghĩa trang, phương án được phê duyệt chỉ tính bồi thường 804m² với đơn giá 72.000 đồng/m².
Gia đình không đồng tình vì cho rằng toàn bộ thửa đất đã được sử dụng ổn định trong thời gian dài. Bà T. khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính liên quan, đồng thời đề nghị áp dụng mức bồi thường 472.000 đồng/m² và xem xét các khoản hỗ trợ, bồi thường tài sản trên đất.
Giai đoạn từ năm 1993 đến 2003, mẹ bà T. nhận chuyển nhượng đất từ nhiều người. Sau khi bà qua đời năm 2015 mà không để lại di chúc, các thành viên trong gia đình tiếp tục quản lý khu đất; đến năm 2019, vợ chồng bà T. xây thêm nhà cấp 4 rộng khoảng 240m², trị giá hơn 2 tỷ đồng.
Tháng 8/2025, Chủ tịch UBND xã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ; tháng tiếp theo ban hành quyết định thu hồi đất. Trong tổng diện tích 1.041m², phần 237m² không được tính bồi thường vì được xác định là đất do UBND xã quản lý.
Đại diện Chủ tịch UBND xã cho biết hồ sơ địa chính năm 1985 và bản đồ giải thửa ghi nhận các thửa đất có chủ thể sử dụng khác nhau. Sau quá trình dồn điền đổi thửa, mẹ bà T. được giao 804m² theo quyết định năm 1994; phần còn lại thuộc diện đất do UBND xã quản lý.
Về công trình xây dựng trên đất, phía chính quyền viện dẫn hồ sơ xác định thời điểm sử dụng đất làm nhà trong giai đoạn 2004-2014. Theo quan điểm này, công trình nằm trên phần đất do UBND xã quản lý không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định, dù gia đình được xem xét hỗ trợ theo chính sách.
Hồ sơ địa chính là căn cứ xác định diện tích được bồi thường
Xét xử sơ thẩm vào tháng 6/2026, TAND khu vực 1 – Hải Phòng bác yêu cầu khởi kiện của bà T. Bà kháng cáo, nhưng tại phiên phúc thẩm, TAND TP Hải Phòng tiếp tục xem xét hồ sơ địa chính và các tài liệu quản lý đất đai để xác định nguồn gốc, tình trạng pháp lý của diện tích bị thu hồi.
Tòa nhận định 804m² là phần đất mẹ bà T. được giao theo quyết định năm 1994. Đối với 237m² còn lại, bà T. không xuất trình được tài liệu chứng minh Nhà nước đã giao đất, công nhận quyền sử dụng hoặc cho phép gia đình sử dụng hợp pháp. Vì vậy, việc không tính phần diện tích này vào diện được bồi thường có căn cứ.
Về đơn giá, Tòa xác định diện tích bị thu hồi thuộc loại đất nông nghiệp, không phải đất ở. Mức 72.000 đồng/m² được áp dụng theo quyết định phê duyệt giá đất cụ thể phục vụ dự án, nên đề nghị bồi thường theo mức 472.000 đồng/m² của bà T. không được chấp nhận.
Đối với tài sản, Tòa cho rằng công trình trên phần đất do UBND xã quản lý không đủ điều kiện bồi thường toàn bộ nhưng gia đình đã được xem xét hỗ trợ. Việc không bồi thường cây lâu năm trồng trên đất được giao để trồng cây hằng năm cũng được xác định là phù hợp quy định.
Gia đình bà T. không đủ điều kiện nhận hỗ trợ ổn định đời sống. Các khoản hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm và ổn định sản xuất, kinh doanh chỉ được tính trên diện tích 181,4m² đủ điều kiện; việc bố trí một lô đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất được xác định là phù hợp.
Từ các căn cứ trên, TAND TP Hải Phòng không chấp nhận kháng cáo của bà T. và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Nguyễn Hiệp (tổng hợp)

